Sách Giáo Lý của HTCG - Phần II: Đoạn I: Chương II: Mục 2 - Sự đa dạng của phụng vụ và sự duy nhất của mầu nhiệm (1200-1209)

[ Điểm đánh giá5/5 ]1 người đã bình chọn
Xem: 2544 | Cật nhập: 7/11/2014 3:45:56 PM | RSS


Mục 2

Sự đa dạng của phụng vụ
và sự duy nhất của mầu nhiệm

Articulus 2
Diversitas liturgica et unitas mysterii





Các truyền thống phụng vụ và tính công giáo của Hội Thánh


1200. Từ cộng đoàn tiên khởi ở Giêrusalem cho đến ngày Đức Kitô ngự đến, các Giáo Hội của Thiên Chúa, trung thành với đức tin tông truyền, đều cử hành ở mọi nơi cùng một mầu nhiệm Vượt Qua. Mầu nhiệm được cử hành trong phụng vụ, chỉ là một, nhưng những hình thức của việc cử hành mầu nhiệm đó thì khác nhau.


1201. Mầu nhiệm Đức Kitô phong phú khôn lường đến nỗi không một truyền thống phụng vụ nào có thể diễn tả trọn vẹn được. Lịch sử hình thành và phát triển các nghi lễ này cho thấy chúng bổ túc cho nhau một cách kỳ diệu. Khi các Giáo Hội sống những truyền thống phụng vụ này trong sự hiệp thông đức tin và hiệp thông các bí tích của đức tin, các Giáo Hội đó đã làm phong phú cho nhau và lớn lên trong sự trung thành với Thánh Truyền và với sứ vụ chung của toàn thể Hội Thánh[1].


1202. Các truyền thống phụng vụ khác nhau đã được khai sinh vì chính sứ vụ của Hội Thánh. Các Giáo Hội trong cùng một khu vực địa dư và văn hóa đã cử hành mầu nhiệm Đức Kitô bằng những cách diễn tả đặc biệt, đặc trưng về văn hoá: trong việc lưu truyền “kho tàng Đức Tin”[2], trong các biểu tượng phụng vụ, trong việc tổ chức hiệp thông huynh đệ, trong sự hiểu biết thần học về các mầu nhiệm và trong các điển hình của sự thánh thiện. Như vậy, nhờ đời sống phụng vụ của từng Giáo Hội, Đức Kitô, Đấng là Ánh Sáng và Ơn Cứu Độ cho muôn dân, được biểu lộ cho dân tộc và nền văn hóa mà Hội Thánh được sai đến và đã bén rễ vào đó. Hội Thánh có đặc tính Công giáo: Hội Thánh có thể hội nhập vào sự duy nhất của mình tất cả những sự phong phú đích thực của các nền văn hóa, sau khi đã thanh tẩy chúng[3].


1203. Các truyền thống phụng vụ, hoặc các nghi lễ, ngày nay đang được sử dụng trong Hội Thánh là nghi lễ La tinh (chủ yếu là nghi lễ Rôma, nhưng cũng có các nghi lễ của một số Giáo Hội địa phương như nghi lễ thánh Ambrôsiô, hoặc nghi lễ của một số dòng tu), và các nghi lễ Byzantinô, Alexandrinô hoặc Copticô, Syriacô, Armêniô, Marônita và Chalđêô. “Trung thành vâng theo truyền thống, thánh Công đồng tuyên bố rằng Mẹ Hội Thánh coi tất cả các nghi lễ đã được chính thức công nhận đều bình đẳng trên pháp lý và được tôn trọng như nhau, lại muốn các nghi lễ ấy được duy trì trong tương lai và được cổ võ bằng mọi cách”[4].



Phụng vụ và các nền văn hóa


1204. Vì vậy việc cử hành phụng vụ phải phù hợp với tinh thần và văn hóa của các dân tộc khác nhau[5]. Để mầu nhiệm của Đức Kitô được loan báo “cho muôn dân biết, để họ tin mà vâng phục Thiên Chúa” (Rm 16,26), thì mầu nhiệm đó phải được loan báo, cử hành và sống trong tất cả các nền văn hóa, sao cho mầu nhiệm Đức Kitô không xoá bỏ, nhưng cứu chuộc và kiện toàn các nền văn hoá đó[6]. Đông đảo các con cái Thiên Chúa cùng với nền văn hoá nhân loại riêng của họ và nhờ nền văn hoá đó, một nền văn hoá đã được Đức Kitô đón nhận và biến đổi, đã đến với Chúa Cha, để tôn vinh Ngài trong một Thần Khí duy nhất.


1205. “Phải lưu ý rằng trong phụng vụ, nhất là trong phụng vụ các bí tích, có một phần bất biến, vì do Chúa thiết lập, mà Hội Thánh là người canh giữ, và những phần có thể thay đổi, mà Hội Thánh có quyền, và đôi khi có bổn phận thích nghi với các nền văn hóa của các dân tộc mới đón nhận Tin Mừng”[7].


1206. “Sự đa dạng của phụng vụ có thể là nguồn mạch của sự phong phú, nhưng cũng có thể gây ra những căng thẳng, những hiểu lầm lẫn nhau và thậm chí những vụ ly giáo. Trong lãnh vực này, hiển nhiên là sự đa dạng không được làm tổn thương sự hợp nhất, và sự đa dạng đó chỉ có thể được diễn tả nhờ lòng trung thành đối với đức tin chung, đối với các dấu chỉ bí tích mà Hội Thánh đã nhận từ Đức Kitô, và đối với sự hiệp thông phẩm trật. Sự thích nghi với các nền văn hóa đòi phải hối cải nội tâm, và nếu cần, phải đoạn tuyệt với những thói quen lâu đời không phù hợp với đức tin công giáo”[8].



TÓM LƯỢC


1207. Việc cử hành phụng vụ nên được diễn tả trong nền văn hóa của dân mà Hội Thánh đang hiện diện, nhưng không được lệ thuộc vào đó. Mặt khác, phụng vụ cũng có vai trò khai sinh và đào tạo các nền văn hóa.


1208. Các truyền thống phụng vụ khác nhau, hay các nghi lễ, được chính thức công nhận, vì chúng biểu thị và thông hiệp cùng một mầu nhiệm của Đức Kitô, biểu lộ tính công giáo của Hội Thánh.


1209. Tiêu chuẩn bảo đảm cho sự duy nhất giữa sự đa dạng của các truyền thống phụng vụ, là sự trung thành với truyền thống Tông Đồ, nghĩa là: hiệp thông trong đức tin và các bí tích do các Tông Đồ truyền lại, sự hiệp thông này được biểu thị và bảo đảm nhờ việc kế nhiệm Tông Đồ.



Nguồn: http://giaolyductin.net


[1] X. ĐGH Phaolô VI, Tông huấn Evangelii nuntiandi, 63-64: AAS 68 (1976) 53-55.

[2] X. 2 Tm 1,14.

[3] X. CĐ Vaticanô II, Hiến chế tín lý Lumen Gentium, 23: AAS 57 (1965) 28-29; Id., Sắc lệnh Unitatis redintegratio, 4: AAS 57 (1964) 95.

[4] CĐ Vaticanô II, Hiến chế Sacrosanctum Concilium, 4: AAS 56 (1964) 98.

[5] X. CĐ Vaticanô II, Hiến chế Sacrosanctum Concilium, 37-40: AAS 56 (1964) 110-111.

[6] X. ĐGH Gioan Phaolô II, Tông huấn Catechesi tradendae, 53: AAS 71 (1979) 1319-1321.

[7] ĐGH Gioan Phaolô II, Tông thư Vicesimus quintus annus, 16: AAS 81 (1989) 912-913; x. CĐ Vaticanô II, Hiến chế Sacrosanctum Concilium, 21: AAS 56 (1964) 105-106.

[8] ĐGH Gioan Phaolô II, Tông thư Vicesimus quintus annus, 16: AAS 81 (1989) 913.