6. Biết thiết lập tương giao trợ lực: cởi mở - chấp nhận – cảm thông - KẾT

[ Điểm đánh giá5/5 ]1 người đã bình chọn
Xem: 3511 | Cật nhập: 5/10/2014 6:26:12 PM | RSS

BIẾT NGƯỜI VÀ LÀM CHỦ QUAN HỆ VỚI NGƯỜI (2)

Biết thiết lập tương giao trợ lực: cởi mở - chấp nhận – cảm thông

Carl Rogers, tác giả cuốn “Thành Nhân” (On Becoming a Person) xuất bản năm 1961, có thể được xem là bậc thầy trong lãnh vực tương giao, đặc biệt trong việc thiết lập tương giao gọi là tương giao trợ lực. Theo ông, tương giao qua đó ít ra một trong hai bên tham dự có ý định đi đến chỗ:

  1. Nhận ra tiềm năng bên trong mỗi người,
  2. Mở đường cho tiềm năng ấy thể hiện,
  3. Sử dụng tiềm năng ấy giúp cho mỗi người tăng trưởng.

Để thiết lập tương giao trợ lực, cần có những điều kiện cần thiết sau đây:

1. Trung thực và cởi mở

Trung thực là sự thống nhất giữa ý thức, kinh nghiệm và sự thông đạt. Cởi mở là dám bộc lộ điều mình đang nghĩ hay đang cảm nhận. Muốn thế, cần vượt thắng nỗi sợ bằng lắng nghe và chấp nhận bản thân. Nhờ trung thực và cởi mở của ta, người khác có thể gặp gỡ và bộc lộ chính họ.

2. Chấp nhận người khác

Chấp nhận người khác nghĩa là: tôn trọng người khác với những cảm nghiệm của họ; tránh áp đặt hoặc đồng hóa, phê phán, quy kết hoặc đánh giá. Sự chấp nhận của ta mở đường cho người khác an tâm bày tỏ cảm nghĩ của họ.

3. Đồng cảm với người khác

Đồng cảm là tâm tình có được khi ta đứng vào vị trí hoặc đặt mình vào hoàn cảnh của người khác, để cảm nghĩ như họ; nhờ đó, họ có được sự tự do khám phá lại chính mình.

Dưới đây là 10 bước giúp ta bước vào tương giao trợ lực

  1. Trung thực: ý thức và chấp nhận tình cảm của mình.
  2. Cởi mở: thông đạt đầy đủ và rõ ràng cảm nghĩ của mình.
  3. Can đảm: dám đi bước trước và dám sống kinh nghiệm mới.
  4. Tự tin: đi sâu vào sự hiểu biết và chấp nhận người kia.
  5. Tin tưởng: cho người kia được tự do là họ.
  6. Lắng nghe: cố gắng lãnh hội kinh nghiệm của người kia.
  7. Đón nhận: chấp nhận vô điều kiện người kia như họ là.
  8. Tế nhị: nhạy bén trước nhu cầu tâm linh của người kia.
  9. Vô tư: không phê phán, đánh giá và kết án.
  10. Độ lượng: đón nhận người kia như một người không ngừng biến đổi và tăng trưởng, không trói buộc người ấy vào quá khứ của họ.

Định luật tổng quát để thiết lập tương giao trợ lực là:

a/ Muốn thiết lập tương giao trợ lực, cả hai phía phải có ý muốn: gặp nhau, tiếp nhận sự thông đạt của nhau và dành thời gian dài để tiếp xúc với nhau.

b/ Sự thống nhất giữa kinh nghiệm và ý thức càng cao, sự thông đạt càng rõ ràng. Sự thông đạt càng rõ ràng, mối tương giao càng trung thực hơn, thông hiểu hơn, chính xác hơn, thích ứng tốt hơn và phản ứng thỏa đáng hơn.

Hiệu quả của tương giao trợ lực:

Tương giao trợ lực giúp tôi từ lắng nghe và chấp nhận người khác đến lắng nghe và chấp nhận chính mình như con người thật của mình, công khai sống con người thật của mình: một con người tự do. Nó mở ra cho tôi một chân trời mới, hướng tới thống nhất đời sống và cởi mở với người, với đời. Nó còn cũng mở ra cho tôi một kinh nghiệm mới để khám phá một bản ngã luôn đổi mới và dấn mình vào một tương giao mới chân thực và thân thiết hơn.

Muốn thế, tôi phải dấn thân vào một cuộc mạo hiểm: Khởi đầu tôi cảm thấy sợ nhưng sau đó, tôi cảm thấy quý mến và thân tình hơn, an tâm hơn bước vào thế giới của người khác với ước mong hiểu biết và chấp nhận họ; nhờ đó, hiểu biết và chấp nhận mình và sống thật con người của mình. Như thế, nhờ người khác mà tôi tìm về mái nhà xưa của mình.

a/ Tương giao trợ lực mở ra cho tôi con đường nên người hơn : Nó giúp tôi gỡ bỏ mặt nạ, khám phá cái thực sự là tôi và trở nên chính tôi. Cởi mở với kinh nghiệm, đối diện với sự thật, vượt lên chính mình.

b/ Tương giao trợ lực mở ra cho tôi con đường sống con người thật của tôi hơn : Nó giúp tôi xa cái hào nhoáng bên ngoài và thúc ép bên trong, xa cái hình thức và giả tạo.Tự tin, tự lập, tự quản và tự quyết. Không sợ thay đổi và không ngừng thay đổi.

c/ Tương giao trợ lực đổi mới và tăng triển nhân cách của bạn

Trưởng thành không phải là tình trạng cố định hay quân bình nhưng là một tiến trình, tiến trình khám phá bản thân và tự điều chỉnh để có thể sống hòa hợp với bản thân và tha nhân, thích ứng cách sáng tạo hơn là rập theo khuôn mẫu và a dua theo dư luận, hơn là dựa vào những nguyên tắc hướng dẫn, lề luật và dư luận.

Lượng giá

Hãy chia sẻ với nhóm điều bạn tâm đắc và thiết thực nhất lãnh hội được từ giảng khóa này.

KẾT

1. Nhân cách (personality)

Rất khó để tìm một định nghĩa chung về nhân cách. Các nhà tâm lý không đồng nhất với nhau về ý niệm nhân cách nhưng tất cả đều nhấn mạnh đến cách phản ứng của cá nhân trước những hoàn cảnh sống. Theo các nhà tâm lý học, nhân cách được bọc lộ qua cách ứng xử chung của một người trong một thời gian dài, qua cách họ chọn lựa và quyết định.

Theo Sigmund Freud, nhân cách của một người được cấu trúc bởi ba yếu tố: bản năng (id), bản ngã (ego) và siêu ngã (superego). Cả ba yếu tố này ở nơi con người và tác động lên nhau.

6. Biết thiết lập tương giao trợ lực: cởi mở - chấp nhận – cảm thông - KẾT

Khi tôi quyết định một điều gì, thì lập tức một ước muốn cảm tính hay đánh giá bộc phát dựa trên sự thích thú nhất thời của tôi, nghĩa là cái “tôi thích hoặc không thích”, xuất hiện và tiếp đến là một ước muốn lý tính hay đánh giá thứ phát dựa trên giá trị và mục tiêu mà tôi đã đề ra, nghĩa là cái “có lợi hay không có lợi cho tôi”.

6. Biết thiết lập tương giao trợ lực: cởi mở - chấp nhận – cảm thông - KẾT

Lúc bấy giờ, tôi phải chọn lựa và quyết định thế nào để có thể giữ được thế cân bằng giữa bản năng và siêu ngã. Tôi không thể chọn lựa và quyết định làm theo ước muốn này hay ước muốn kia: “cái tôi thích” hay “cái lợi ích cho tôi”, “cảm tính” hay “lý tính”, “nhu cầu” hay “lý tưởng”, nhưng phải toàn nhập cả hai ước muốn theo cách đặt cảm tính lệ thuộc vào lý tính, đặt nhu cầu . Nhờ đó, tôi mới có được sự thống nhất hay kiên định và có thể xác định mình là ai.

Từ những phân tích trên, chúng ta có thể định nghĩa nhân cách (personality xuất phát từ persona, personalitas có nghĩa là “mặt nạ”) như sau: khi đối diện và giao tiếp với thế giới và xã hội, tôi thường trang bị cho mình một mặt nạ, tạo ra cho mình một hình ảnh, một ấn tượng tốt đẹp về bản thân để mong hòa nhập tốt nhất với xã hội. Nhân cách chính là hình ảnh hay ấn tượng về bản thân mà tôi cống hiến cho người khác quan sát thông qua một chuỗi những quyết định trong cuộc sống hàng ngày, đặc biệt trong những thời điểm quan trọng; chẳng hạn quyết định làm quỷ nước Nam hơn làm vua phương Bắc của Trần Bình Trọng hoặc quyết định chịu chết thay vì bước qua thập giá của các thánh tử đạo Việt Nam …

Như vậy, nhân cách được bộc lộ qua những quyết định của bạn trong cuộc sống hằng ngày:

  • quyết định nói hay im lặng, nói những gì và nói như thế nào, có nên ngắt lời người khác và nói át tiếng của người khác không;
  • quyết định ăn cái gì và ăn như thế nào;
  • quyết định mặc những gì và mặc như thế nào;
  • quyết định đứng hay ngồi, đứng chỗ nào và ngồi thế nào;
  • quyết định làm hay không làm, làm nửa vời hay làm đến cùng …

Tất cả tỏ cho người ta thấy nhân cách của bạn. Chính bạn sẽ quyết định nhân cách của bạn.

2. Trau dồi nhân cách

Chúng ta kết thúc giảng khóa với thói quen thứ 7 của Stephen R. Covey; đó là “dành thời gian để giũa cưa” (take time to sharpen the saw) nghĩa là làm cho sáu thói quen trên được trở nên nhuần nhuyễn, bằng cách không ngừng đổi mới bản thân trên các bình diện thể lý (chế độ luyện tập, ăn uống, giãn xả …), tinh thần (đọc, nhìn, lập kế hoạch, viết lách …), xã hội (an toàn xã hội, phục vụ, đồng cảm, hợp lực …) và tâm linh (làm rõ các giá trị, cam kết, học hỏi, suy gẫm …).

Trong ý hướng này, nhân cách là chuyện cả đời!

NVH

SÁCH THAM KHẢO

  • Beesing Mary, Nogosek Robert, O’Leary Patrick, L’Ennéagramme (Desclée de Brouwer, 1992), bản dịch pháp ngữ của Jean Pierre Bagot.
  • Thạch Thảo, Khám phá Chính mình trong Cửu loại, (Ronéo).
  • Anifabola J. Peter, Walking in the Light, “Bước đi trong ánh sáng: tài liệu nghiên cứu sâu hơn về Cựu loại tính”, bản dịch của Thạch Thảo (Mimeograph).
  • Vương Thị Thanh Thanh Huyền, Kitô hữu: Trưởng thành Tâm lý, Tăng trưởng Tâm linh, (Hà Nội: NXB Tôn giáo, 2008).
  • Trần Thị Giồng, Tôi không đi qua tôi, để lại gì? , (Tp.HCM: Phương Đông, 2013).
  • Pitches Mary, Who am I? : Discovering your Identity in Christ, (London: Holder and Stoughton, 1999), “Tôi là ai?: Khám phá căn tính của bạn trong Đức Kitô” (Tp.HCM:NXB Tôn giáo, 2013), bản dịch của Nt. Maria Vũ thị thu Thủy.
  • Covey R. Stephen, The Seven habits of highly effective people, (New York: Franklin Covey, 1989).
  • Rogers Carl, On Becoming a Person, (Boston: Houghton Mifflin Co., 1961).
  • Cencini. A., Menenti A., “Tâm lý và Huấn luyện: Cơ cấu và Năng động” (TTp.HCM: Phương Đông, 2011), bản dịch của Nguyễn Ngọc Kính.
  • Cencini A., Giáo dục, Huấn luyện và Đồng hành: Một Sư phạm giúp một người thể hiện Ơn gọi của mình, (Tp.HCM: Phương Đông, 2011).
  • Cencini A., The Sentiments of the Son: A formative Journey in Consecrated life, (Mumbai: Pauline Sisters Bombay Society,1998), “Người thụ huấn: Hành trình huấn luyện”, bản dịch của Nguyễn Ngọc Kính và Nguyễn văn Khoan (Mimeograph).